Labeling a diagram (part II) – Hướng dẫn làm Ielts Reading

Labeling a diagram (part II) – Hướng dẫn làm Ielts Reading

 

 

Như đã giới thiệu ở bài trước – part I, Labeling a diagram trong Ielts Reading thường có hai hình thức:

Biểu đồ xuất hiện giống như một bản ghi chú, trong đó có một số từ xuất hiện quanh mỗi khoảng trống

– Biểu đồ có những nhãn được yêu cầu hoàn thành nhưng lại không có từ nào xuất hiện quanh các khoảng trống, hoặc nếu có thì cũng rất ít : 1 – 2 từ.

 

Và có 2 cách yêu cầu trả lời:

– Sử dụng chính xác từ/cụm từ trong bài đọc để trả lời

Sử dụng chính xác từ/cụm từ trong danh sách được cho để trả lời

 

Bài này mình sẽ hướng dẫn cách làm dạng câu hỏi Labeling a diagram xuất hiện theo hình thức thứ 2 – hầu như không có từ nào xuất hiện cùng labels hoặc nếu có thì chỉ 1 – 2 từ. Về loại câu hỏi yêu cầu lựa chọn đáp án là từ/cụm từ trong danh sách cho trước mình sẽ hướng dẫn kỹ trong bài sau.

 

 

6 bước giải quyết câu hỏi Labeling a diagram

 

Bước 1: đọc kỹ hướng dẫn của câu hỏi

– Sử dụng từ/cụm từ trong bài đọc hay trong danh sách cho trước để trả lời

– Nắm rõ số lượng từ cho phép cho mỗi đáp án (nếu đề bài yêu cầu sử dụng từ/cụm từ trong bài đọc để trả lời).

Lưu ý, các bạn nên gạch chân hoặc highlight số lượng từ cho phép trong phần hướng dẫn của câu hỏi, việc này giúp dễ nhớ hoặc xem lại khi trả lời.

 

Bước 2: xem kỹ biểu đồ 

Bước này đặc biệt quan trọng vì chúng ta cần phải hiểu rõ biểu đồ mới có thể trả lời câu hỏi.

– Xem biểu đồ có đầu đề không. Đầu đề sẽ cho bạn biết biểu đồ sẽ biểu diễn cho cái gì.

– Xem kỹ các Labels đã có sẵn của biểu đồ, đánh dấu/chỉ rõ chúng là phần nào trong biểu đồ. Việc này sẽ giúp bạn dễ dàng tìm:
+ phần chứa thông tin của biểu đồ trong bài đọc
+ thông tin để điền vào Labels cho các phần khác của biểu đồ

– Xem kỹ các Labels (các câu hỏi) và xác định chúng biểu thị cho phần nào của biểu đồ. Việc này sẽ giúp bạn hiểu rõ trình tự sắp xếp của biểu đồ. Đây là việc hết sức quan trọng vì nó quyết định hướng tìm câu trả lời của bạn.
+ Các bạn hãy tìm điểm liên hệ giữa các Labels (các câu hỏi) và các phần của biểu đồ đã có nhãn sẵn.
+ Dự đoán thông tin gì là phù hợp cho các biểu đồ còn trống

– Xác định từ loại của mỗi label còn trống: dựa vào 
+ thông tin dự đoán: bộ phận/thành phần của biểu đồ 
+ các labels đã có sẵn để xác định -> nếu chúng là danh từ thì khả năng các labels trống cũng là danh từ

 

Bước 3: tìm phần chứa thông tin của câu hỏi trong bài đọc

Phần mô tả của biểu đồ thông thường sẽ nằm trong một phần của bài đọc.

– Sử dụng các từ khóa để tìm ra phần mô tả về biểu đồ trong bài đọc là: 
+ Title – đầu đề của biểu đồ sẽ rất hữu ích cho việc này
+ những Labels sẵn có của biểu đồ

(xem phương pháp sử dụng từ khóa để trả lời câu hỏi tại ĐÂY.)

– Các bạn hãy tìm các từ khóa không thể hoặc khó biến đổi trước như tên riêng (có chữ in hoa như Mali, Humphrey Bogart…) , con số, các từ dài dạng thuật ngữ… Sau đó tìm đến các từ khóa thuộc loại có thể biến đổi, chúng sẽ xuất hiện bằng dạng khác trong bài đọc như từ đồng nghĩa hoặc paraphrase.

 

Bước 4: đọc hiểu đoạn văn chứa thông tin để trả lời câu hỏi

– Xác định (các) câu trong bài đọc chứa thông tin về mỗi labels đã có sẵn trong biểu đồ bằng việc tìm các từ tương ứng với các từ trong labels, và

– Xác định (các) câu chứa thông tin tương đồng với những thông tin ta đã dự đoán về các labels trống (các câu hỏi) như đã xác định ở bước 2 bằng việc tìm các từ tương ứng với các thông tin quan trọng/từ khóa trong dự đoán

– Đọc kỹ thông tin ở các câu này, nếu cần thiết bạn phải đọc các câu trước và sau nó để hiểu rõ nghĩa.  

 

Bước 5: lựa chọn từ/cụm từ làm đáp án

– Gạch chân/highlight từ/cụm từ mà ta thấy chúng có thể cung cấp thông tin cho labels nếu chúng:
+ Phù hợp với thông tin trong dự đoán ở bước 2
+ Phù hợp với từ loại dự đoán ở bước 2

– Kiểm tra từ/cụm từ đó có phù hợp với số lượng từ cho phép để trả lời như yêu cầu của đề bài không.

– Lắp từ/cụm từ đó vào chỗ trống để có nhận biết có phù hợp hay không.

 

Bước 6: kiểm tra đáp án

Kiểm tra kỹ mỗi nhãn dán sau khi điền đáp án vào có:

– Phù hợp với thông tin nêu ra trong bài đọc

– Đúng về mặt ngữ pháp

– Đáp án có đúng giới hạn số từ cho phép như đầu bài.

– Sử dụng đúng từ/cụm từ trong bài đọc hay từ/cụm từ trong danh sách được 

– Đảm bảo đáp án đúng về chính tả, đây sẽ là lỗi ngớ ngẩn và đáng tiếc nhất nếu mắc phải.

 

Tips:

– Thông tin về biểu đồ thường chỉ nằm trong một phần của bài đọc chứ không phải toàn bộ bài đọc.

– Đầu đề của biểu đồ là một manh mối quan trọng và hữu để tìm thông tin trong bài đọc, bạn không nên bỏ qua nó.

– Sắp xếp của các câu hỏi Labels không cùng thứ tự xuất hiện trong bài đọc.

– Xác định đúng từ loại cần thiết như noun, adjective… cho từng nhãn dán sẽ giúp chúng ta tìm đáp án dễ dàng và chắc chắn hơn

– Hãy làm câu hỏi dễ nhất trước vì sau mỗi một câu hỏi được hoàn thành biểu đồ sẽ trở nên dễ hiểu hơn.

– Dự đoán câu trả lời trước bằng việc dựa vào biểu đồ và các từ xuất hiện quanh labels, việc này giúp bạn dễ tìm thông tin còn thiếu của lables nằm trong bài đọc

 

Các bạn xem bài giải minh họa sau để hiểu rõ hơn nhé

 

Cam 8 test 2 pas1

Complete the table and diagram below.
Choose NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer.
Write your answers in boxes 6-8 on your answer sheet.

 

Bước 1: đọc hướng dẫn của câu hỏi ta thấy đề bài yêu cầu đáp án cho mỗi câu hỏi cần 

– không quá 2 từ  

– sử dụng từ/cụm từ trong bài đọc 

Choose NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer.

 

Bước 2: xem biểu đồ

– Đầu đề của biểu đồ “Pilkington’s float process” cho ta biết nó sẽ mô tả về một quy trình nổifloat process của Pilkington

– Xác định các bộ phận đã có sẵn Labels. 

Đây sẽ là 1 quy trình bao gồm 2 khu vực chính: tan chảylàm lạnh và có 1 bộ phận nhỏ hình tròn nằm sau khu vực làm lạnh

 

– Các Labels còn trống (câu hỏi) đều đã có các mũi tên chỉ những bộ phận thuộc quy trình mà ta có thể nhìn thấy rõ.

 

– Sự liên hệ của các câu hỏi với các bộ phận đã có sẵn Labels trong biểu đồ và thông tin dự đoán về các Labels còn trống (câu hỏi):

+ Câu 6 chỉ một lượng chất lỏng hoặc bột được đưa/đổ vào khu vực nóng chảy (mũi tên đổ xuống ở góc melting zone)

+ Câu 7 chỉ bộ phận/thành phần đáy của quy trình

+ Câu 8 chỉ bộ phận/thành phần nằm ngoài 2 khu vực nóng chảy và làm lạnh, và nó cũng nằm cuối quy trình, có hình tròn.

 

Xác định từ loại: chúng sẽ là danh từ vì

+ các labels còn trống đều chỉ các bộ phận hoặc vật như dự đoán thông tin ở trên

+ các labels có sẵn khác cũng là danh từ

 

Bước 3: tìm phần chứa thông tin của câu hỏi trong bài đọc

Dựa vào đầu đề của biểu đồ “Pilkington’s float process” ta xác định được đoạn văn sau

The float process for making flat glass was invented by Alistair Pilkington. This process allows the manufacture of clear, tinted and coated glass for buildings, and clear and tinted glass for vehicles. Pilkington had been experimenting with improving the melting process, and in 1952 he had the idea of using a bed of molten metal to form the flat glass, eliminating altogether the need for rollers within the float bath. The metal had to melt at a temperature less than the hardening point of glass (about 600°C), but could not boil at a temperature below the temperature of the molten glass (about 1500°C) . The best metal for the job was  tin .

Pilkington’s float process = The float process wass invented by Pilkington.

 

Ta tiếp tục tìm kiếm các từ khóa tương ứng với các từ khóa là các bộ phận đã được Label sẵn của biểu đồ: melting zonecolling zone

The float process for making flat glass was invented by Alistair Pilkington. This process allows the manufacture of clear, tinted and coated glass for buildings, and clear and tinted glass for vehicles. Pilkington had been experimenting with improving the melting process, and in 1952 he had the idea of using a bed of molten metal to form the flat glass, eliminating altogether the need for rollers within the float bath. The metal had to melt at a temperature less than the hardening point of glass (about 600°C), but could not boil at a temperature below the temperature of the molten glass (about 1500°C) . The best metal for the job was  tin.

The rest of the concept relied on gravity, which guaranteed that the surface of the molten metal was perfectly flat and horizontal. Consequently, when pouring molten glass onto the molten tin, the underside of the glass would also be perfectly flat. If the glass were kept hot enough, it would flow over the molten tin until the top surface was also flat, horizontal and perfectly parallel to the bottom surface. Once the glass cooled to 604°C or less it was too hard to mark and could be transported out of the cooling zone by rollers.

 

Từ việc tìm ra các từ khóa tương ứng trên, ta chắc chắn đây là phần chứa thông tin để trả lời câu hỏi trong biểu đồ.

 

Bước 4: đọc hiểu đoạn văn chứa thông tin để trả lời câu hỏi

– Các câu chứa thông tin về mỗi labels đã có sẵn trong biểu đồ

Pilkington had been experimenting with improving the melting process, and in 1952 he had the idea of using a bed of molten metal to form the flat glass, eliminating altogether the need for rollers within the float bath. The metal had to melt at a temperature less than the hardening point of glass (about 600°C), but could not boil at a temperature below the temperature of the molten glass (about 1500°C) . The best metal for the job was  tin.

Consequently, when pouring molten glass onto the molten tin, the underside of the glass would also be perfectly flat. If the glass were kept hot enough, it would flow over the molten tin until the top surface was also flat, horizontal and perfectly parallel to the bottom surface. Once the glass cooled to 604°C or less it was too hard to mark and could be transported out of the cooling zone by rollers.

 

– Xác định các câu chứa thông tin tương đồng với thông tin đã dự đoán ở bước 2

+ Câu 7 chỉ bộ phận đáy của quy trình, chạy dài hết quy trình (vì thông tin của câu 7 xuất hiện trước nên ta làm câu 7 trước)

Thông tin quan trọng/key words của dự đoán: bộ phận đáy

….using a bed of molten metal to form the flat glass, eliminating altogether the need for rollers within the float bath. The metal had to melt at a temperature less than the hardening point of glass (about 600°C), but could not boil at a temperature below the temperature of the molten glass (about 1500°C) . The best metal for the job was  tin.

…sử dụng một mặt đáy phẳng của kim loại nóng chảy để tạo nên tấm kính phẳng, loại bỏ sự cần thiết của con lăn trong bể nổi…..Kim loại tốt nhất cho việc này là thiếc.

 

Thông tin trong bài khớp với thông tin dự đoán:
bộ phận đáy của quy trình = a bed of molten mental = một mặt đáy phẳng của kim loại nóng chảy

 

+ Câu 6 chỉ một lượng chất lỏng hoặc bột được đưa/đổ vào khu vực nóng chảy

Key words của dự đoán: chất lỏng hoặc bột, đưa/đổ, khu vực nóng chảy

 

Consequently, when pouring molten glass onto the molten tin, the underside of the glass would also be perfectly flat.

Do đó, khi đổ kính nóng chảy lên thiếc nóng chảy, mặt dưới của kính sẽ trở nên rất phẳng.

 

Thông tin trong bài khớp với thông tin dự đoán:

lượng chất lỏng hoặc bột = molten glass = kính nóng chảy

đưa/đổ = pouring = đổ

khu vực nóng chảy = the molten tin = thiếc nóng chảy

 

+ Câu 8 chỉ bộ phận nằm ngoài 2 khu vực nóng chảy và làm lạnh, và nó cũng nằm cuối quy trình, có hình tròn.

Từ khóa của dự đoán: nằm ngoài 2 khu vực nóng chảy và làm lạnh, hình tròn.

 

…..eliminating altogether the need for rollers within the float bath.

…. loại bỏ sự cần thiết của các con lăn trong bể nổi.

 

Thông tin trong bài khớp với thông tin dự đoán:
nằm ngoài 2 khu vực nóng chảy và làm lạnh = eliminating …. rollers within the float bath = loại bỏcác con lăn trong bể nổi

hình tròn = rollers = các con lăn

 

Bước 5: lựa chọn từ/cụm từ làm đáp án

Gạch chân từ/cụm từ có thể là đáp án với các tiêu chí

+ Phù hợp với thông tin trong dự đoán ở bước 2

+ Phù hợp với từ loại dự đoán ở bước 2

 

Câu 7: chỉ bộ phận đáy của quy trình, chạy dài hết quy trình (thông tin dự đoán ở bước 2)

Thông tin cần tìm là 
+ về bộ phận đáy
+ là danh từ

….using a bed of molten metal to form the flat glass, eliminating altogether the need for rollers within the float bath..…. The best metal for the job was  tin.

…. sử dụng một mặt đáy phẳng của kim loại nóng chảy để tạo nên tấm kính phẳng, loại bỏ sự cần thiết của con lăn trong bể nổi….. Kim loại tốt nhất cho việc này là thiếc.

 

Từ các thông tin trên ta thấy thông tin phù hợp cho đáp án là 

+ a bed of molten metal – một mặt đáy phẳng của kim loại nóng chảy

+ tin – meltal for the job – thiếc là kim loại phù hợp cho việc này

 

Đề bài chỉ cho phép sử dụng 2 từ để trả lời -> rút gọn thông tin trên lại, ta thấy phù hợp nhất là molten metal hoặc moten tinkim loại nóng chảy hoặc thiếc nóng chảy

 

Câu 6: chỉ một lượng chất lỏng hoặc bột được đưa/đổ vào khu vực nóng chảy (thông tin dự đoán ở bước 2)

Thông tin cần tìm là:
+ chất lỏng hoặc bột được đưa/đổ vào
+ là danh từ

Consequently, when pouring molten glass onto the molten tin, the underside of the glass would also be perfectly flat.

Do đó, khi đổ kính nóng chảy lên thiếc nóng chảy, mặt dưới của kính sẽ trở nên rất phẳng.

 

Từ thông tin trên ta thấy thông tin phù hợp cho đáp án là molten glass = kính nóng chảy. Nó cũng phù hợp với giới hạn cho phép của đáp án mà đề bài yêu cầu.

 

Câu 8: chỉ bộ phận nằm ngoài 2 khu vực nóng chảy và làm lạnh, và nó cũng nằm cuối quy trình, có hình tròn. (thông tin dự đoán ở bước 2)

Thông tin cần tìm là:
+ bộ phận nằm ngoài 2 khu vực nóng chảy và làm lạnh
+ có hình tròn
+ là danh từ

…..eliminating altogether the need for rollers within the float bath.
…. loại bỏ sự cần thiết của các con lăn trong bể nổi.

 

Từ các thông tin trên ta thấy thông tin phù hợp cho đáp án là rollers = các con lăn. Nó cũng phù hợp với giới hạn từ làm đáp án như yêu cầu của đề bài.

 

– Lắp thử đáp án vào biểu đồ ta thấy chúng phù hợp

 

Bước 6: kiểm tra đáp án

– Các đáp án rất phù hợp với thông tin nêu ra trong bài đọc như đã chứng minh ở bước 5

– Về mặt ngữ pháp, cả 3 đáp án đều là danh từ chỉ các bộ phận/thành phần của quy trình -> phù hợp về mặt ngữ pháp

– Các đáp án đều sử dụng đúng giới hạn từ cho phép: không quá 2 từ cho mỗi đáp án

– Kiểm tra lại về chính tả, ta thấy các đáp án đã được viết đúng.

 

Sau khi kiểm tra qua các tiêu chí trên các đáp án đã được đảm bảo là đúng: Câu 6 molten glass ; Câu 7 motel tin/metal ; Câu 8 rollers

 

Qua 6 bước làm bài chúng ta đã tìm ra đáp án cho một số câu hỏi trog Cam 8 một cách chính xác và chắc chắn. Trông có vẻ hơi dài vì nhiều bước, nhưng khi các bạn luyện tập quen, những bước này có thể diễn ra trong đầu rất nhanh. Các bạn hãy áp dụng phương pháp này vào luyện tập xem nó có phải là  một quy trình làm bài hữu ích iúp bạn tìm ra đáp án chính xác nhất.

Về dạng câu hỏi Labeling a diagram mà đề bài yêu cầu sử dụng từ/cụm từ trong danh sách cho trước để trả lời, các bạn đọc tại ĐÂY

 

With love & passion!

 

P/s: Ngoài những bài giảng online cho những người tự học tiếng Anh, Ielts, nếu muốn học kỹ và chất lượng hơn với các lớp học ít người, học phí thấp các bạn có thể tham gia các lớp luyện thi Ielts offline trên đường Nguyễn Trãi – Hà Nội của mình nhé.

 

CÁC KHÓA HỌC OFFLINE CỦA Ms. NGÂN HOA

 

Hướng dẫn các kỹ năng Ielts:

Ielts Writing

Ielts Speaking

Ielts Reading

Ielts Listening

Hướng dẫn chung về Ielts

 

Ngữ pháp

Luyện thi tốt nghiệp THPT & ĐH

 



Ielts – Ngân Hoa Facebook

Liên hệ trực tiếp

Bạn có thể liên hệ trực tiếp với Facebook cá nhân của Ms. Ngân Hoa

Categories

error: Content is protected !!