Matching Feature – Hướng dẫn làm Ielts Reading

Matching Feature – Hướng dẫn làm Ielts Reading

 

 

Matching features trong Ielts Reading là dạng câu hỏi yêu cầu bạn dựa vào bài đọc để tìm đáp án là các lựa chọn cho trước (A, B, C, D…) phù hợp với từng câu hỏi là những trình bầy về các sự việc/sự kiện, các ý kiến hay các lý thuyết.

 

Dạng câu hỏi này kiểm tra bạn về khả năng:

– Có thể nhận dạng mối liên hệ giữa các sự việc/sự kiện, các ý kiến hay các lý thuyết.

– Có thể tìm ra những thông tin chi tiết được yêu cầu ở trong bài đọc một cách nhanh chóng.

 

Dạng câu hỏi này thường hỏi về 3 vấn đề:

– Yêu cầu nối các câu trình bày – statements là những đặc tính của hoặc áp dụng cho từng lựa chọn A, B, hoặc C. – FACTS

– Yêu cầu nối các ý kiến – opinions với tên của mỗi người hoặc của một nhóm người riêng biệt. –  OPINIONS

– Yêu cầu nối các lý/học thuyết – theories với tên của mỗi người riêng biệt hoặc của một nhóm người. – THEORIES

 

Traps & mistakes:

– Đọc hết bài đọc trước. Bạn không có nhiều thời gian để làm việc này, tốt hơn, bạn hãy scan toàn bộ đoạn text để tìm ra các lựa chọn là tên, địa điểm….

– Không đọc kỹ đoạn chứa các lựa chọn để hiểu rõ chúng dẫn đến lựa chọn sai.

– Chú tâm tìm chính xác các từ trong câu hỏi mà không để ý đến các từ đồng nghĩa. Trong Ielts test, từ đồng nghĩa thường được sử dụng để kiểm tra khả năng về từ vựng của bạn nên sẽ là vô ích nếu bạn muốn tìm đích xác từ xuất hiện trong câu hỏi.

– Các câu hỏi không được sắp xếp cùng trật tự với trình tự xuất hiện thông tin trong bài đọc. Do đó kỹ năng scan là rất quan trọng để bạn tìm ra nơi có thể chứa thông tin của câu hỏi trong toàn bộ bài đọc.

– Sai lầm khi cho rằng mỗi lựa chọn chỉ là đáp án cho một câu hỏi. Một lựa chọn có thể sẽ là đáp án của hơn một câu hỏi và có thể sẽ có lựa chọn không phải là đáp án cho bất kỳ câu hỏi nào.

 

Tips:
– Scan bài đọc để tìm ra các lựa chọn trước và đánh dấu chúng. Chúng ta sẽ đọc kỹ những khu vực này để tìm đáp án cho mỗi câu hỏi.

– Tìm và đánh dấu các từ khóa của tất cả các câu hỏi chứ không phải làm câu hỏi nào mới tìm từ khóa cho câu hỏi đó. Qua việc này chúng ta sẽ hiểu rõ nghĩa của từng câu hỏi để có thể so sánh với thông tin xuất hiện cùng các lựa chọn trong bài đọc.

– Làm câu hỏi dễ nhất trước. Câu hỏi dễ nhất thường bao gồm ít thông tin nhất hoặc lựa chọn xuất hiện ít  lần nhất trong bài đọc. Sau khi tìm ra đáp án cho mỗi câu hỏi, bạn sẽ hiểu rõ hơn về bài đọc và sẽ dễ tìm câu trả lời hơn cho các câu hỏi sau. Lý do nữa là các câu hỏi khó chưa tìm được câu trả lời sẽ làm tốn rất nhiều thời gian của bạn, hãy tạm thời bỏ qua chúng đã. Sẽ có nhiều câu hỏi dễ hơn đang chờ bạn, và bạn sẽ quay lại hoàn thành các câu hỏi khó sau khi đã làm hết các câu hỏi dễ.

– Để ý đến các từ đồng nghĩa và paraphrase vì hầu hết những thông tin trong câu hỏi sẽ được miêu tả theo cách khác trong bài đọc.

– Một số lựa chọn có thể sẽ bị rút ngắn lại như Bill Gates -> Gates.

– Một số lựa chọn có thể sẽ xuất hiện vài lần trong bài đọc, do đó bạn cần phải hiểu rõ câu hỏi để tìm ra đáp án.

– Có những trường hợp mà 2 lựa chọn xuất hiện trong cùng 1 câu, dễ làm rối trí. Lúc này ta cần phải đọc thật kỹ và đảm bảo hiểu rõ ý nghĩa của câu thì mới có thể trả lời đúng.

 

Hướng dẫn làm bài:

Bước 1: đọc kỹ câu hỏi
Việc này sẽ giúp bạn nắm chính xác đề bài yêu cầu bạn làm gì, bạn đang phải làm dạng câu hỏi nào.

 

Bước 2: scan và đánh dấu các lựa chọn xuất hiện trong toàn bộ bài đọc
Các bạn hãy đọc các lựa chọn A, B, C, D… sau đó tìm và đánh dấu chúng trong bài đọc.

 

Bước 3: đọc kỹ các câu hỏi – statements
Gạch chân hoặc highlight các từ khóa của từng statement. Việc này sẽ giúp bạn hiểu kỹ ý nghĩa của từng statement và dễ so sánh với thông tin bạn tìm thấy trong bài đọc.

 

Bước 4: đọc kỹ phần chứa thông tin

– Phần chứa thông tin chính là vùng xung quanh các lựa chọn xuất hiện trong bài đọc. Chúng ta cần đọc kỹ toàn bộ câu chứa lựa chọn đó, thậm chí đọc cả những câu trước câu sau nếu thấy cần thiết.

– Các bạn nên bắt đầu với vùng chứa lựa chọn xuất hiện ít lần nhất trước, vì nó sẽ dễ làm hơn, và sau mỗi câu hỏi được hoàn thành thì những câu hỏi khác cũng trở nên dễ hơn. Ví dụ: New York xuất hiện 3 lần, London 2 lần, Paris 1 lần : bạn sẽ làm Paris trước, rồi đến London, và New York sau cùng.

– Đối với các statements, ta cũng nên lựa chọn làm các câu chứa ít thông tin nhất để làm trước vì đó chính là những câu dễ.

Lưu ý:

– Tiến hành bước 4 rồi lựa chọn đáp án theo bước 5 cùng lúc cho từng vùng chứa các lựa chọn, xong vùng này mới chuyển tiếp vùng chứa lựa chọn khác.

– Có thể có những trường hợp mà 2 lựa chọn xuất hiện trong cùng 1 câu. Lúc này ta cần phải đọc thật kỹ và đảm bảo hiểu rõ ý nghĩa của câu thì mới có thể trả lời đúng.

 

Vd: A. Noble and Davidson
B. Dunbar

Statement: There is physical evidence of increased human intelligence up to 400,000 years ago. ____

Trong bài đọc: Davidson and Noble, who reject Dunbar’s gossip theory, suggest that there was an significant increase in brain size from about 400,000 years ago.

 

Bước 5: lựa chọn đáp án cho câu hỏi – statement phù hợp với thông tin trong bài đọc

Khi đã hiểu rõ về ý nghĩa của phần chứa lựa chọn như đã nêu ở bước 4, các bạn rà soát lại các statement xem câu nào phù hợp với thông tin của phần bài đọc này. Bạn hãy lựa chọn statement phù hợp nhất rồi đối chiếu bằng các từ khóa. Nếu thấy không có statement nào phù hợp, hãy bỏ qua nó và tiến hành cho vùng chứa thông tin kế tiếp.

– Phù hợp hết về các từ khóa (các từ khóa của statement xuất hiện tương ứng trong phần chứa thông tin trong bài đọc) -> lựa chọn đáp án này

– Không phù hợp hết về các từ khóa -> không phải đáp án -> chọn statement khác và đối chiếu từ khóa. Cứ làm như vậy cho đến khi tìm ra đáp án đúng.

– Ngay khi tìm ra đáp án, bạn hãy ghi nó ra ngay bên cạnh statement đó. Việc này sẽ giúp bạn thấy rõ là câu nào đã trả lời rồi, câu nào chưa, và không bị quên đáp án đó khi tìm đáp án cho các câu kế tiếp.

 

Lưu ý:

– Các từ khóa trong statements có thể bị biến đổi bằng từ đồng nghĩa hoặc paraphrase. Sẽ là sai lầm nếu chỉ tìm kiếm sự xuất hiện một cách chính xác của các từ khóa.

– Các bạn hãy tìm các từ khóa không thể hoặc khó biến đổi trước như tên riêng (có chữ in hoa như Mali, Humphrey Bogart…) , con số, các từ dài dạng thuật ngữ… Sau đó tìm đến các từ khóa thuộc loại có thể biến đổi, chúng sẽ xuất hiện bằng dạng khác trong bài đọc như từ đồng nghĩa hoặc paraphrase.

– Xem phương pháp sử dụng từ khóa để trả lời câu hỏi tại ĐÂY.

 

 

Các bạn xem bài giải minh họa để hiểu rõ hơn nhé.

Cam 11 test 2 pass 1 5 -8

Look at the following statement (Questions 5-8) and the list of dates below.
Match each statement with the correct date, A-G

5. A search for the Mary Rose was launched.
6. One person’s exploration of the Mary Rose site stopped
7. It was agreed that the hull of the Mary Rose should be raised.
8. The site of the Mary Rose was found by chance.

List of Dates
A    1836   1971
B    1840   1979
C    1965 G    1982
  1967  

 

Bước 1: đọc kỹ câu hỏi
Đọc đề bài ta thấy yêu cầu chúng ta làm dạng câu hỏi matching features – yêu cầu nối những câu trình bầy với các lựa chọn

Look at the following statements (Questions 5-8) and the list of dates below. 
Match each statement with the correct date, A-G

 

Bước 2: scan và đánh dấu các lựa chọn xuất hiện trong bài đọc

– Xem kỹ các lựa chọn

List of Dates
A    1836   1971
B    1840   1979
C    1965 G    1982
  1967  

 

– Chúng ta thấy các lựa chọn cho trước xuất hiện trong bài đọc Raising the Mary Rose như sau

……. Then, on 16 June 1836, some fishermen in the Solent found that their equipment was caught on an underwater obstruction, which turned out to be the Mary Rose. Diver John Deane happened to be exploring another sunken ship nearby, and the fishermen approached him, asking him to free their gear. Deane dived down, and found the equipment caught on a timber protruding slightly from the seabed. Exploring further, he uncovered several other timbers and a bronze gun. Deane continued diving on the site intermittently until 1840, recovering several more guns, two bows, various timbers, part of a pump and various other small finds.

The Mary Rose then faded into obscurity for another hundred years. But in 1965, military historian and amateur diver Alexander McKee, in conjunction with the British Sub-Aqua Club, initiated a project called ‘Solent Ships’. While on paper this was a plan to examine a number of known wrecks in the Solent, what McKee really hoped for was to find the Mary Rose. Ordinary search techniques proved unsatisfactory, so McKee entered into collaboration with Harold E. Edgerton, professor of electrical engineering at the Massachusetts Institute of Technology. In 1967, Edgerton’s side-scan sonar systems revealed a large, unusually shaped object, which McKee believed was the Mary Rose.

Further excavations revealed stray pieces of timber and an iron gun. But the climax to the operation came when, on 5 May 1971, part of the ship’s frame was uncovered. McKee and his team now knew for certain that they had found the wreck, but were as yet unaware that it also housed a treasure trove of beautifully preserved artefacts. Interest ^ in the project grew, and in 1979, The Mary Rose Trust was formed, with Prince Charles as its President and Dr Margaret Rule its Archaeological Director. The decision whether or not to salvage the wreck was not an easy one, although an excavation in 1978 had shown that it might be possible to raise the hull. While the original aim was to raise the hull if at all feasible, the operation was not given the go-ahead until January 1982, when all the necessary information was available.

….. The third and final stage was to lift the entire structure into the air, by which time the hull was also supported from below. Finally, on 11 October 1982, millions of people around the world held their breath as the timber skeleton of the Mary Rose was lifted clear of the water, ready to be returned home to Portsmouth…..

 

Bước 3: đọc kỹ các câu hỏi – statements, gạch chân hoặc highlight các từ khóa

5. A search for the Mary Rose was launched.
Một sự tìm kiếm về con tàu Mary Rose đã được khởi xướng.

6. One person’s exploration of the Mary Rose site stopped.
Sự thám hiểm của một người ở vị trí của con tàu Mary Rose đã chấm dứt.

7. It was agreed that the hull of the Mary Rose should be raised.
Đã có sự đồng ý rằng thân tàu Mary Rose nên được trục vớt.

8. The site of the Mary Rose was found by chance.
Vị trí của con tàu Mary Rose đã được tìm thấy một cách tình cờ.

 

Bước 4 + 5 : đọc kỹ phần chứa thông tin rồi lựa chọn đáp án

Ta thấy trong số tất cả các lựa chọn A – G thì có lựa chọn G. 1982 xuất hiện 2 lần, số còn lại chỉ xuất hiện 1 lần. Do đó, ta sẽ đọc các vùng chứa thông tin về lựa chọn G sau cùng.

 

Mình đọc ngẫu nhiên từ trên xuống dưới bài đọc, đầu tiên sẽ là phần bài đọc chứa lựa chọn

A. 1836

Đoạn xuất hiện lựa chọn trong bài đọc:

Then, on 16 June 1836, some fishermen in the Solent found that their equipment was caught on an underwater obstruction, which turned out to be the Mary Rose.

Sau đó, vào ngày 16 tháng 6 năm 1836, một số ngư dân ở Solent thấy rằng ngư cụ đánh cá của họ bị mắc vào một vật cản ở dưới nước cái mà sau này được xác định là con tàu Mary Rose.

 

So thông tin của đoạn này với các statement ta thấy nó có vẻ phù hợp với câu 8

8. The site of the Mary Rose was found by chance.
Vị trí của con tàu Mary Rose đã được tìm thấy một cách tình cờ.

 

So sánh các từ khóa:

8. The site of the Mary Rose was found by chance.

Then, on 16 June 1836, some fishermen in the Solent found that their equipment was caught on an underwater obstruction, which turned out to be the Mary Rose.

found = found that 

by chance = an……turned out

 

Vị trí của con tàu Mary Rose đã được tìm thấy một cách tình cờ.

Sau đó, vào ngày 16 tháng 6 năm 1836, một số ngư dân ở Solent thấy rằng các dụng cụ đánh cá của mình bị mắc vào một vật cản ở dưới nước cái mà sau này được xác định là con tàu Mary Rose.

Ta thấy câu chứa lựa chọn A. 1836 này có thông tin hoàn toàn phù hợp với statement số 8, tương đồng cả về các từ khóa, do đó ta sẽ chọn đáp án A cho câu 8.

 

Tiếp đến là vùng chứa lựa chọn B 1840.

Đoạn xuất hiện lựa chọn trong bài đọc:

Exploring further, he uncovered several other timbers and a bronze gun. Deane continued diving on the site intermittently until 1840, recovering several more guns, two bows, various timbers, part of a pump and various other small finds. The Mary Rose then faded into obscurity for another hundred years. 

Khám phá thêm, ông ấy đã phát hiện một vài xà rầm gỗ khác và một khẩu súng đồng. Deane tiếp tục lặn tìm ở vị trí này một cách không định kỳ cho đến năm 1840, tìm được vài khẩu súng nữa, hai cây cung, vô số xà rầm gỗ khác nhau, bộ phận của một máy bơm và nhiều vật dụng nhỏ khác. Mary Rose sau đó chìm dần vào quên lãng trong một trăm năm tiếp theo.

 

So thông tin này với các statement ta thấy có vẻ phù hợp với câu 6

6. One person’s exploration of the Mary Rose site stopped.
Sự thám hiểm của một người về vị trí của con tàu Mary Rose đã chấm dứt.

 

So sánh các từ khóa:

6. One person’s exploration of the Mary Rose site stopped.

Exploring further, he uncovered several other timbers and a bronze gun. Deane continued diving on the site intermittently until 1840, recovering several more guns, two bows, various timbers, part of a pump and various other small finds. The Mary Rose then faded into obscurity for another hundred years. 

One person’s exploration = Deane continued diving on the site

stopped = faded into obscurity

 

Sự thám hiểm của một người về vị trí của con tàu Mary Rose đã chấm dứt.

Khám phá thêm, ông ấy đã phát hiện một vài xà gỗ khác và một khẩu súng đồng. Deane tiếp tục lặn tìm ở vị trí này một cách không định kỳ cho đến năm 1840, tìm được vài khẩu súng nữa, hai cây cung, vô số xà rầm gỗ khác nhau, một phần của một máy bơm và nhiều vật dụng nhỏ khác. Mary Rose sau đó chìm dần vào quên lãng trong một trăm năm tiếp theo.

 

Ta thấy câu chứa lựa chọn B. 1840 này có thông tin hoàn toàn phù hợp với statement số 6, tương đồng cả về các từ khóa, do đó ta sẽ chọn đáp án B cho câu 6.

 

 

Tiếp tục với vùng chứa lựa chọn C. 1965

Đoạn xuất hiện lựa chọn trong bài đọc:

But in 1965, military historian and amateur diver Alexander McKee, in conjunction with the British Sub-Aqua Club, initiated a project called ‘Solent Ships’. While on paper this was a plan to examine a number of known wrecks in the Solent, what McKee really hoped for was to find the Mary Rose.

Nhưng vào năm 1965, nhà sử học quân sự và thợ lặn nghiệp dư Alexander McKee, hợp tác với câu lạc bộ thám hiểm dưới nước của người Anh, khởi xướng một dự án gọi là “Những con tàu Solent”. Trong khi trên giấy tờ thì đây là một kế hoạch nhằm kiểm chứng số lượng tàu đắm đã được biết đến ở Solent, nhưng việc mà McKee thực sự mong muốn là tìm kiếm con tàu Mary Rose.

 

So thông tin này với các statement ta thấy có vẻ phù hợp với câu 5

5. A search for the Mary Rose was launched.
Một sự tìm kiếm về con tàu Mary Rose đã được khởi xướng.

 

So sánh các từ khóa:

5. A search for the Mary Rose was launched.

But in 1965, military historian and amateur diver Alexander McKee, in conjunction with the British Sub-Aqua Club, initiated a project called ‘Solent Ships’. While on paper this was a plan to examine a number of known wrecks in the Solent, what McKee really hoped for was to find the Mary Rose.

search for = find 

launched = initiated

 

Một sự tìm kiếm về con tàu Mary Rose đã được khởi xướng.

Nhưng vào năm 1965, nhà sử học quân sự và thợ lặn nghiệp dư Alexander McKee, hợp tác với câu lạc bộ thể thao dưới nước của người Anh, khởi xướng một dự án gọi là “Những con tàu Solent”. Trong khi trên giấy tờ thì đây là một kế hoạch nhằm kiểm chứng số lượng tàu đắm đã được biết đến ở Solent, nhưng việc mà McKee thực sự mong muốn là tìm kiếm con tàu Mary Rose.

 

Ta thấy câu chứa lựa chọn C. 1965 này có thông tin hoàn toàn phù hợp với statement số 5, tương đồng cả về các từ khóa, do đó ta sẽ chọn đáp án C cho câu 5.

 

 

Tiếp đến là vùng xuất hiện lựa chọn D. 1967

Đoạn xuất hiện lựa chọn trong bài đọc

Ordinary search techniques proved unsatisfactory, so McKee entered into collaboration with Harold E. Edgerton, professor of electrical engineering at the Massachusetts Institute of Technology. In 1967, Edgerton’s side-scan sonar systems revealed a large, unusually shaped object, which McKee believed was the Mary Rose.

Các kỹ thuật dò tìm thông thường đều không có kết quả nên McKee đã quyết định hợp tác với Harold Edgerton, giáo sư ngành kỹ thuật điện tại Học viện Massachusetts. Vào năm 1967, hệ thống quét hình bằng sóng siêu âm của giáo sư Edgerton đã phát hiện ra 1 vật thể lớn có hình dạng bất thường, cái mà Mc Kee tin rằng đó chính là chiến hạm Mary Rose.

 

So sánh thông tin của phần bài đọc này ta thấy không liên quan với ý nghĩa của bất kỳ statement nào nên chúng ta sẽ bỏ qua nó.

5. A search for the Mary Rose was launched.
Một sự tìm kiếm về con tàu Mary Rose đã được khởi xướng.

6. One person’s exploration of the Mary Rose site stopped.
Sự thám hiểm của một người về vị trí của con tàu Mary Rose đã chấm dứt.

7. It was agreed that the hull of the Mary Rose should be raised.
Đã có sự đồng ý rằng thân tàu Mary Rose nên được trục vớt.

8. The site of the Mary Rose was found by chance.
Vị trí của con tàu Mary Rose đã được tìm thấy một cách tình cờ.

 

 

Tiếp đến là vùng xuất hiện lựa chọn E. 1971

Đoạn xuất hiện lựa chọn trong bài đọc

Further excavations revealed stray pieces of timber and an iron gun. But the climax to the operation came when, on 5 May 1971, part of the ship’s frame was uncovered.

Tuy vậy, đỉnh điểm của hoạt động này là vào ngày 5 tháng 5 năm 1971 khi mà 1 phần khung tàu đã được tìm thấy.

 

Ta thấy ở đây có thông tin là đã tìm thấy một phần khung tàu, có chút thông tin giống với câu 8, tuy nhiên câu 8 là tìm thấy vị trí chứ không phải là một phần của khung tàu. 

 

So với các statement khác thì phần này có thông tin không phù hợp với câu nào cả nên ta sẽ bỏ qua nó.

8. The site of the Mary Rose was found by chance.
Vị trí của con tàu Mary Rose đã được tìm thấy một cách tình cờ.

5. A search for the Mary Rose was launched.
Một sự tìm kiếm về con tàu Mary Rose đã được khởi xướng.

6. One person’s exploration of the Mary Rose site stopped.
Sự thám hiểm của một người về vị trí của con tàu Mary Rose đã chấm dứt.

7. It was agreed that the hull of the Mary Rose should be raised.
Đã có sự đồng ý rằng thân tàu Mary Rose nên được trục vớt.

 

 

Tiếp đến là vùng xuất hiện lựa chọn F. 1979

Đoạn xuất hiện lựa chọn trong bài đọc

McKee and his team now knew for certain that they had found the wreck, but were as yet unaware that it also housed a treasure trove of beautifully preserved artefacts. Interest in the project grew, and in 1979, The Mary Rose Trust was formed, with Prince Charles as its President and Dr Margaret Rule its Archaeological Director.

McKee và cả nhóm lúc bấy giờ đã chắc chắn rằng họ đã tìm được con tàu, chỉ có điều họ vẫn chưa biết rằng con tàu này cũng nắm giữ cả 1 kho báu các tạo vật tuyệt đẹp được bảo quản. Sự quan tâm đến dự án đã được dâng cao, đến năm 1979, tổ chức Mary Rose Trust được thành lập do hoàng tử Charles làm chủ tịch và tiến sĩ Margaret Rule làm giám đốc khảo cổ.

 

So sánh thông tin của phần bài đọc này ta thấy không liên quan với ý nghĩa của bất kỳ statement nào nên chúng ta sẽ bỏ qua nó.

5. A search for the Mary Rose was launched.
Một sự tìm kiếm về con tàu Mary Rose đã được khởi xướng.

6. One person’s exploration of the Mary Rose site stopped.
Sự thám hiểm của một người về vị trí của con tàu Mary Rose đã chấm dứt.

7. It was agreed that the hull of the Mary Rose should be raised.
Đã có sự đồng ý rằng thân tàu Mary Rose nên được trục vớt.

8. The site of the Mary Rose was found by chance.
Vị trí của con tàu Mary Rose đã được tìm thấy một cách tình cờ.

 

 

Tiếp đến là vùng xuất hiện lựa chọn G. 1982 thứ nhất

Đoạn xuất hiện lựa chọn trong bài đọc

While the original aim was to raise the hull if at all feasible, the operation was not given the go-ahead until January 1982, when all the necessary information was available.

Mặc dù mục đích ban đầu là trục vớt thân tàu lên với tất cả khả năng có thể, nhưng việc thực hiện đã không được chấp thuận cho đến tận tháng giêng năm 1982, khi tất cả các thông tin cần thiết được thu thập đầy đủ. 

 

So thông tin của đoạn này với các statement ta thấy nó có vẻ phù hợp với câu 7

7. It was agreed that the hull of the Mary Rose should be raised.
Đã có sự đồng ý rằng thân tàu Mary Rose nên được trục vớt.

 

So sánh các từ khóa

7. It was agreed that the hull of the Mary Rose should be raised.

While the original aim was to raise the hull if at all feasible, the operation was not given the go-ahead until January 1982, when all the necessary information was available.

hull = hull

raised = was to raise

agreed = given the go – ahead

 

Đã có sự đồng ý rằng thân tàu Mary Rose nên được trục vớt.

Mặc dù mục đích ban đầu là trục vớt thân tàu lên với tất cả khả năng có thể, nhưng việc thực hiện đã không được chấp thuận cho đến tận tháng giêng năm 1982, khi tất cả các thông tin cần thiết được thu thập đầy đủ. 

 

Ta thấy đoạn thứ nhất có chứa lựa chọn G. 1982 này này có thông tin hoàn toàn phù hợp với statement số 7, tương đồng cả về các từ khóa, do đó ta sẽ chọn đáp án G cho câu 7.

 

 

Vậy là ta đã tìm được đáp án cho tất cả các statement/câu hỏi, tuy nhiên vẫn còn một phần bài đọc có chứa lựa chọn G. 1982 nữa mà ta chưa xem xét. Để chắc chắn không bị nhầm hoặc sai sót, ta sẽ xem ý nghĩa của đoạn văn này thế nào.

The third and final stage was to lift the entire structure into the air, by which time the hull was also supported from below. Finally, on 11 October 1982, millions of people around the world held their breath as the timber skeleton of the Mary Rose was lifted clear of the water, ready to be returned home to Portsmouth.

Giai đoạn ba và cũng là giai đoạn cuối cùng là nâng toàn bộ kết cấu con tàu lên khỏi mặt nước, cùng lúc đó thân tàu cũng nhận được sự chống đỡ từ bên dưới. Cuối cùng, vào ngày 11 tháng 10 năm 1982, hàng triệu người trên thế giới cùng hồi hộp khi chứng kiến bộ khung sườn của chiến hạm Mary Rose được nâng lên khỏi mặt nước, sẵn sàng để trở về cố hương là Portsmouth.

 

So sánh thông tin của phần bài đọc này ta thấy không liên quan với ý nghĩa của bất kỳ statement nào nên chúng ta sẽ bỏ qua nó.

5. A search for the Mary Rose was launched.
Một sự tìm kiếm về con tàu Mary Rose đã được khởi xướng.

6. One person’s exploration of the Mary Rose site stopped.
Sự thám hiểm của một người về vị trí của con tàu Mary Rose đã chấm dứt.

7. It was agreed that the hull of the Mary Rose should be raised.
Đã có sự đồng ý rằng thân tàu Mary Rose nên được trục vớt.

8. The site of the Mary Rose was found by chance.
Vị trí của con tàu Mary Rose đã được tìm thấy một cách tình cờ.

 

 

Vậy là ta đã có thể chắc chắn với những đáp án cho các câu hỏi/statement đã tìm ra ở trên.

Câu 5 – C    1965

Câu 6 – B    1840

Câu 7 – G    1982

Câu 8 – A    1836

 

 

Như thế là mình đã giải hết 4 câu hỏi reading dạng Matching Features trong sách Cam 11 qua 5 bước làm bài giới thiệu ở trên. Các đáp án đã được tìm ra một cách chính xác và chắc chắn phải không các bạn. Các bạn hãy áp dụng phương pháp này vào luyện tập thêm các câu hỏi khác dạng này nhé.

Chúc các bạn học tốt!

 

Các câu hỏi này trong sách Cambridge Test:

Question 37 – 40 Cam 11, Test 1, passage 3

 

With love & passion!

P/s: Ngoài những bài giảng online cho những người tự học tiếng Anh, Ielts, nếu muốn học kỹ và chất lượng hơn với các lớp học ít người, học phí thấp các bạn có thể tham gia các lớp luyện thi Ielts offline trên đường Nguyễn Trãi – Hà Nội của mình nhé.

 

CÁC KHÓA HỌC OFFLINE CỦA CÔ NGÂN HOA

 

Hướng dẫn các kỹ năng Ielts:

Ielts Writing

Ielts Speaking

Ielts Reading

Ielts Listening

Hướng dẫn chung về Ielts

 

Ngữ pháp

Luyện thi tốt nghiệp THPT & ĐH

 



Ielts – Ngân Hoa Facebook

Liên hệ trực tiếp

Bạn có thể liên hệ trực tiếp với Facebook cá nhân của Ms. Ngân Hoa

Categories

error: Content is protected !!